26/09/2013 00:00
Xem với cỡ chữ

TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 18 (Đăng Tạp chí HTPT số 86 - Tháng 9/2013)

Khách hàng A lập Hợp đồng vay Ngân hàng B để trả nợ cho Ngân hàng C (tất cả các giao dịch vay trả bằng chuyển khoản) từ tài khoản của khách hàng này. Khi khởi tố vụ án, khách hàng A bị cơ quan Điều tra truy tố tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Ngân hàng B và ra Quyết định thu giữ vật chứng số tiền đã trả nợ cho Ngân hàng C. Trong khi Ngân hàng C sau khi thu nợ đã thanh lý Hợp đồng vay và tiếp tục cho vay số tiền thu nợ nói trên. Mặt khác, việc thu nợ của Ngân hàng C cũng được thực hiện trước khi khởi tố vụ án 3 tháng.
1. Theo anh chị, số tiền trên có phải là vật chứng vụ án hình sự không, tại sao?
2. Cơ quan Điều tra ra Quyết định thu giữ vật chứng trong trường hợp này được  không? Tại sao?
3. Nếu Ngân hàng C không chấp hành Quyết định có bị chế tài? Nếu anh, chị là Giám đốc Ngân hàng C thì ứng xử trong tình huống này thế nào?
 
GIẢI ĐÁP TÌNH HUỐNG PHÁP LÝ SỐ 18
1.  Theo tôi, số tiền trên không phải là vật chứng vụ án hình sự. Bởi vì Điều 74 Bộ luật Tố tụng Hình sự mô tả về vật chứng như sau: “Vật chứng là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội ”. 
Như vậy, dựa vào lời văn trong Điều Luật trên, thì tiền bạc ở đây phải được hiểu là tiền bạc khi cơ quan chức năng bắt giữ khám xét người, nơi ở, làm việc phát hiện có tiền liên quan đến vụ án; hoặc bắt quả tang một vụ đưa, nhận tiền hối lộ; tiền thu giữ tại sòng bạc; tiền do nạn nhân bị người bắt cóc đòi để chuộc người bị bắt cóc; tiền dùng thuê bọn côn đồ hành hung gây thương tích hay thủ tiêu người khác… Những loại tiền này phải là tiền mặt và được lập biên bản ghi số lượng, giá trị, số sêry, nhận dạng đặc điểm cụ thể mới đủ yếu tố là vật chứng để chứng minh trong vụ án hình sự. Còn trong trường hợp khách hàng A lập hợp đồng vay ngân hàng B trả cho ngân hàng C bằng các chứng từ chuyển khoản, rồi sau đó khách hàng A bị khởi tố tội lừa đảo, thì số tiền ngân hàng C đã thu nợ cũng không thể coi là vật chứng trong vụ án được. Bởi các lẽ sau:
Thứ nhất, xét về quan hệ tín dụng thì có hai quan hệ độc lập. Trong đó, khách hàng A và ngân hàng B là quan hệ vay và cho vay trên cơ sở Hợp đồng tín dụng. Mặt khác, quan hệ giữa khách hàng A với ngân hàng C là quan hệ thu và trả nợ trên cơ sở Hợp đồng tín dụng đáo hạn đã vay trước đó. Các giao dịch dân sự này là hợp pháp, nên cho dù khách hàng A có lừa đảo ngân hàng B và số tiền B trả nợ có nguồn gốc từ số tiền phạm tội mà có chăng nữa, thì cũng không thể nói số tiền thu nợ hợp pháp của ngân hàng C là vật chứng.
Thứ hai, theo quy định tại khoản 3, Điều 83 Bộ Luật tố tụng Dân sự thì vật chứng phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ án, nhưng ở đây, số tiền sau khi ngân hàng C thu nợ bằng chuyển khoản, và  khi thu đã  hạch toán trừ nợ cho khách hàng A, đồng thời hòa vào nguồn vốn chung để cho vay tiếp chứ không còn tồn tại,  tại thời điểm thu cũng không phải là tiền hiện vật (chưa nói phải là hiện vật gốc) nên  nếu coi đó là vật chứng sẽ không đúng điều luật nói trên.
Thứ ba, nếu cho rằng vật chứng bao gồm cả dòng tiền do người khác phạm tội mà có thì cũng không thể áp dụng đối với Ngân hàng C, vì theo quy định pháp luật, khi ngân hàng thu nợ không bắt buộc phải biết nguồn tiền từ đâu mà có để trả nợ. Chỉ khi thu nợ bằng tiền mặt của kẻ phạm tội bị bắt quả tang, cơ quan chức năng tiến hành lập biên bản thu giữ ngay lúc đếm trả hoặc còn giữ tại kho quỹ thì số tiền đó mới bị coi là vật chứng. Khi đó giao dịch trả nợ được coi là không thành, khách hàng A vẫn còn nợ lại ngân hàng C vì số tiền đã bị thu giữ phục vụ cho công tác điều tra và bồi thường cho người bị hại.
2. Như phân tích ở trên, trong trường hợp này cơ quan Điều tra ra quyết định thu giữ vật chứng là vội vàng, thiếu cân nhắc, nếu không muốn nói áp dụng pháp luật thiếu chính xác. Tuy nhiên, cũng cần nhìn nhận một thực tế, khi khởi tố vụ án hình sự về kinh tế, cơ quan chức năng thường dựa vào lời khai, các hồ sơ chứng cứ khác, xác định thiệt hại rồi tiến hành xác minh, đối chiếu số liệu, dòng tiền đi đến… mà quên xem xét kỹ các quan hệ pháp luật, quyền và trách nhiệm pháp lý của các chủ thể; thế nào là vật chứng… dẫn đến quyết định chủ quan, thiếu sót là điều khó tránh khỏi.
3. Theo pháp luật hiện hành, chưa có biện pháp nào chế tài nếu Ngân hàng C không chấp hành quyết định trên. Nếu là Giám đốc của Ngân hàng C, trước mắt tôi tạm chấp hành quyết định của cơ quan chức năng để làm dịu tình hình và thể hiện sự tôn trọng đối vời người thi hành công vụ, Sau đó có văn bản lập luận, trao đổi với cơ quan chức năng chứng minh việc thu nợ là hợp pháp, đề nghị hoặc khiếu nại cấp thẩm quyền thu hồi hoặc hủy các quyết định thu giữ vật chứng trái pháp luật và     hợp tác với cơ quan điều tra để cung cấp các bút tích trong giao dịchvới Khách hàng A, khi cơ quan chức năng  yêu cầu và có sự cho phép của lãnh đạo cấp trên trực  tiếp.
 
Tìm theo ngày :

Khách online:1664
Lượt truy cập: 12998972