30/07/2021 10:23
Xem với cỡ chữ

Hoàn thiện chính sách tín dụng đầu tư từ góc nhìn cơ sở

Lê Ngọc Châu Chi nhánh NHPT KV Sông Tiền (Bài đạt giải Khuyến khích Cuộc thi viết về 15 năm thành lập NHPT, Bài viết đã được biên tập phù hợp đăng trên Tạp chí HTPT)
Chính sách tín dụng đầu tư của Nhà nước được ban hành theo Nghị định số 32/2017/NĐ-CP ngày 31/3/2017 của Chính phủ (Nghị định 32), sau hơn 03 năm triển khai thực hiện bên cạnh những kết quả đạt được, đã bộc lộ nhiều mặt hạn chế, cần sớm được nghiên cứu sửa đổi, bổ sung hoàn thiện để tiếp tục đi vào cuộc sống. Bài viết xin đề cập mấy vấn đề về khó khăn, vướng mắc trong triển khai thực hiện Nghị định 32, từ góc nhìn cơ sở.
Có thể nói, việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị định 32 được lãnh đạo Ngân hàng Phát triển Việt Nam (NHPT) quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện khá bài bản với tinh thần chủ động. Ngay sau khi Nghị định 32 được ban hành, ngày 19/4/2017 Tổng Giám đốc NHPT đã ban hành văn bản số 866/NHPT-CĐKH về việc triển khai thực hiện Nghị định 32 với 08 nhóm công việc ở 03 mảng nghiệp vụ. 
Người đứng đầu các đơn vị thuộc, trực thuộc được giao nhiệm vụ phải khẩn trương quán triệt, triển khai đến cán bộ, nhân viên, người lao động (NLĐ) những nội dung cơ bản của Nghị định 32, phù hợp với từng đối tượng, gắn với phần hành, chức trách nhiệm vụ được phân công. Đối với cán bộ nghiệp vụ được nghiên cứu kỹ nội dung Nghị định 32, nhất là các quy định mới, những thay đổi so với các Nghị định trước để nắm rõ, thực hiện đúng(1). 
Về phía Chi nhánh NHPT Khu vực Sông Tiền, sau Hội nghị triển khai thực hiện Nghị định 32 do NHPT tổ chức ngày 12/5/2017, Giám đốc Chi nhánh tiếp tục quán triệt, triển khai đầy đủ tinh thần, nội dung Hội nghị đến cán bộ, NLĐ. Cùng với đó, Chi nhánh đã tích cực tham gia góp ý hoàn thiện cơ chế, chính sách; quy chế, quy trình, quy định quản trị nội bộ. Có nhiều lượt ý kiến đóng góp hoàn thiện các dự thảo: Quy chế, quy trình cho vay vốn tín dụng đầu tư (TDĐT); Quy chế Thanh toán trong nước tại NHPT; Quy chế Quản lý Tài chính đối với NHPT; Quy định về công tác thẩm định vốn TDĐT;... Tổ chức cho NLĐ tự học tập, nghiên cứu kỹ các văn bản “khung” đã được NHPT ban hành. Với nghiệp vụ cho vay vốn TDĐT trong nước, đó là Quy chế cho vay ban hành theo Quyết định số 146/QĐ-HĐQT ngày 03/8/2017 của HĐQT; Quy trình cho vay ban hành theo Quyết định số 368/QĐ-NHPT ngày 17/7/2017 của Tổng Giám đốc NHPT;  Hướng dẫn thực hiện Quy chế, Quy trình cho vay vốn TDĐT số 1868/NHPT-TDĐT ngày 03/8/2017; Hướng dẫn công tác thẩm định số 1771/NHPT-TĐ ngày 24/7/2017; Hướng dẫn tiếp nhận hồ sơ vay vốn TDĐT số 1841/NHPT-TĐ ngày 01/8/2017 và nhiều văn bản liên quan. Với nghiệp vụ cho vay vốn nước ngoài, đó là Quy chế cho vay ban hành theo Quyết định số 145/QĐ-HĐQT ngày 15/5/2017; Quy trình cho vay ban hành theo Quyết định số 373/QĐ-NHPT ngày 25/7/2017; Hướng dẫn số 2017/NHPT-TĐ ngày 23/8/2017 về thẩm định cho vay lại vốn nước ngoài do NHPT chịu rủi ro...
Sau hơn 03 năm cùng toàn ngành khẩn trương triển khai thực Nghị định 32, Chi nhánh đã thực hiện được một số công việc cơ bản. Quán triệt, triển khai nghiêm túc việc nghiên cứu chính sách mới, cùng với học tập quy chế, quy trình, quy định nội bộ. Tích cực tham gia góp ý xây dựng, sửa đổi, hoàn thiện cơ chế, chính sách; quy định quản trị nội bộ. Nỗ lực tìm kiếm dự án có nhu cầu vay vốn TDĐT theo chủ trương của Ngành; chủ động thu hẹp cho vay tín dụng xuất khẩu (TDXK) theo định hướng của HĐQT tại Nghị quyết số 342/NQ-HĐQT ngày 31/8/2016: “Giảm dư nợ khách hàng cũ, hạn chế cho vay khách hàng mới”, dừng hẳn việc cho vay, thu dứt điểm nợ đúng quy định, không để phát sinh nợ xấu. Song, kết quả mang lại chưa như mong đợi, chưa thể cho vay dự án mới(2), tỷ lệ tăng trưởng tín dụng nói chung, TDĐT nói riêng ngày càng giảm nhanh (hơn 20%/năm), chưa có điều kiện cải thiện; đây có lẽ cũng là thực trạng chung của toàn hệ thống. Trong nhiều nguyên nhân được đánh giá, cơ bản vẫn là do khó khăn, vướng mắc của Nghị định 32 chưa được cấp thẩm quyền hỗ trợ tháo gỡ triệt để, kịp thời. Tất cả đã được thảo luận, phân tích và nêu rõ trong nhiều nội dung báo cáo của NHPT với cấp thẩm quyền. Báo cáo tổng kết năm 2017, triển khai nhiệm vụ năm 2018 đã sớm nhận diện nhiều bất cập. Nghị quyết của HĐQT, kết luận của Tổng Giám đốc trong các năm qua cập nhật rất đầy đủ, cụ thể, không chỉ nêu khó khăn, vướng măc mà có cả những kiến nghị, đề xuất tháo gỡ(3). 
Có thể lược lại mấy vấn đề cốt yếu, thiếu cơ sở để NHPT hiện thức hóa chính sách TDĐT trên phạm vi cả hệ thống cũng như trên địa bàn Chi nhánh:
Trước tiên, đó là vấn đề thiếu đồng bộ cơ chế TDĐT. Nghị định 32 được ban hành nhưng những văn bản hướng dẫn của cơ quan Bộ ngành chậm, không được ban hành đồng bộ để triển khai thực hiện (cơ chế lãi suất, giới hạn tín dụng,…). 
Thứ hai, tính ưu đãi theo Nghị định 32 không còn rõ nét, thậm chí đã giảm hẳn so với trước. Nhận xét của hầu hết doanh nghiệp trên địa bàn có quan tâm, tìm hiểu thì quy định về đối tượng, điều kiện cho vay, thủ tục hồ sơ,...vừa bó hẹp, vừa ràng buộc khắt khe nên không thật sự hấp dẫn/chưa phù hợp với khả năng đáp ứng của doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa. 
Ví dụ: Về đối tượng vay vốn, tại danh mục các dự án được vay vốn TDĐT ban hành kèm theo Nghị định 32, ngoài thu hẹp ngành nghề - lĩnh vực, còn giới hạn quy mô vốn đầu tư theo nhóm dự án (A, B và C). Có những dự án đầu tư mang tính cấp thiết của địa phương, rất có ý nghĩa trong việc tác động chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; có hiệu quả, khả thi; đáp ứng điều kiện vay vốn nhưng do quy mô vốn đầu tư không đảm bảo theo quy định nên Chủ đầu tư không thể tiếp cận vốn TDĐT. Đây là một bất cập, vừa làm giảm ý nghĩa của nguồn vốn này, vừa hạn chế vai trò của NHPT trong triển khai chính sách TDĐT trên địa bàn. 
Về mua bảo hiểm tài sản bảo đảm (TSBĐ), tại Khoản 7, Điều 6 Nghị định 32 quy định khách hàng phải “Mua bảo hiểm tài sản tại một doanh nghiệp bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản bảo đảm tiền vay”. Ở đây, TSBĐ được hiểu bao gồm tài sản hình thành từ vốn vay và tài sản hình thành từ nguồn vốn khác; thời hạn phải mua bảo hiểm là trong suốt thời hạn vay vốn. Doanh nghiệp cho đây là khó khăn, là gánh nặng tài chính, nhất là đối với những dự án có quy mô vốn đầu tư lớn. Mặt khác, thực tế cho thấy không phải tất cả tài sản hình thành sau đầu tư đều tiểm ẩn nguy cơ rủi ro như nhau (như các dự án đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng, những loại tài sản thuộc dự án đầu tư ngành nước...). Do vậy, bắt buộc phải mua bảo hiểm toàn bộ tài sản được đánh giá là quy định khá cứng nhắc. 
Về thanh tra, kiểm tra, theo quy định tại khoản 1, Điều 26 Nghị định 32 “Các hoạt động về tín dụng đầu tư của Nhà nước theo quy định tại Nghị định này đều phải chịu sự thanh tra, kiểm tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Việc thanh tra, kiểm tra có thể thực hiện ở từng khâu hoặc tất cả các khâu của quá trình đầu tư xây dựng, sản xuất, kinh doanh và hoàn trả vốn vay”. Đây là ràng buộc khắt khe, doanh nghiệp rất e dè khi sử dụng nguồn vốn TDĐT. 
Thứ ba, chậm cụ thể hóa các cơ chế, quy định khung bằng văn bản quản trị, điều hành nội bộ. Mặc dù NHPT đã rất nỗ lực nghiên cứu sửa đổi hoàn thiện văn bản quản trị nội bộ nhằm đảm bảo đầy đủ, đồng bộ; rõ ràng về trình tự, thủ tục; đúng thẩm quyền và trách nhiệm của từng vị trí, từng bộ phận từ khâu xây dựng, tổ chức thực hiện đến kiểm tra, giám sát đảm bảo sự thống nhất, thông suốt, hiệu quả. Tuy nhiên, theo đánh giá của lãnh đạo Ngành, việc ban hành các văn bản quản trị nội bộ không chỉ do ý chí chủ quan mà phụ thuộc nhiều ở tiến độ ban hành các văn bản mang tính pháp lý cao hơn. Đến nay, nhiều văn bản quản trị nội bộ NHPT chưa thể ban hành theo chương trình, kế hoạch. Riêng năm 2020, dự kiến có 25 văn bản sẽ được ban hành theo Nghị quyết số 53/NQ-NHPT ngày 24/4/2020 của Hội đồng quản trị nhưng cũng chỉ thực hiện được 12%, buộc phải rà soát, điều chỉnh lại nhiệm vụ này. 
Ngoài ra, thẳng thắn nhìn nhận thì trong bối cảnh tình hình mới với nhiệm vụ triển khai Đề án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của NHPT giai đoạn 2019 -2021, tính năng động, chủ động của NLĐ nói chung, đội ngũ cán bộ chủ chốt nói riêng có biểu hiện giảm sút, chưa theo kịp hoặc chưa đáp ứng yêu cầu. Tâm lý ngại khó, sợ trách nhiệm ở đâu đó đã bộc lộ với mức độ và biểu hiện khác nhau nhưng ít nhiều có ảnh hưởng đến kết quả và hiệu quả chung trong thực thi chính sách TDĐT từ khi Nghị định 32 được ban hành. Để  có thể thực hiện tốt hơn nhiệm vụ của Chi nhánh, của Ngành trong thời gian tới, với vai trò ngân hàng chính sách của Chính phủ, thiết nghĩ NHPT cần tiếp tục kiên trì kiến nghị, tích cực giải trình những vấn đề được nhận diện để cấp thẩm quyền hỗ trợ tháo gỡ(4). 
Một số ý kiến về sửa đổi, bổ sung Nghị định số 32/2017/NĐ-CP
Xuất phát từ tôn chỉ mục đích hoạt động của NHPT là không vì mục đích lợi nhuận; vốn TDĐT thông qua hệ thống NHPT vẫn được xác định là kênh tín dụng ưu đãi quan trọng dành cho cộng đồng doanh nghiệp. Trong điều kiện dịch vụ thanh toán và các tiện ích khác dành cho khách hàng của NHPT hầu như chưa có và nếu có cũng không thể so sánh với hệ thống NHTM, bên cạnh những vấn đề mang tính chiến lược, Nghị định 32 cần sửa đổi, bổ sung một số nội dung: 
1. Về đối tượng cho vay, nên điều chỉnh theo hướng: 
(i) Không giới hạn quy mô. Có ý kiến cho rằng, đặt ra giới hạn về quy mô vốn đầu tư không chỉ ở Nghị định 32 mà đã có từ trước đó, nhằm tập trung vốn TDĐT vào đúng trọng tâm, trọng điểm; phù hợp với khả năng huy động vốn của tổ chức thực thi. Ngược lại, cũng có ý kiến cho rằng, chính sách TDĐT cần hướng đến sự công bằng, khuyến khích phát triển đồng đều trên mọi vùng miền của đất nước nhằm phát huy thế mạnh, “đánh thức” tiềm năng vượt trội. Ở những địa bàn yếu thế thì thu hút được dự án đầu tư là rất khó khăn nhưng nếu áp dụng giới hạn về quy mô vốn đầu tư thì tính thiết thực từ chính sách TDĐT không rõ nét. Và rằng, một dự án đầu tư có quy mô vốn đầu tư “đạt chuẩn giới hạn” không hẳn sẽ luôn mang lại hiệu quả về mặt kinh tế - xã hội nhiều hơn một số dự án có quy mô vốn đầu tư khiêm tốn. Theo dự thảo sửa đổi, bổ sung danh mục dự án được vay vốn TDĐT mới nhất, trong hơn 20 lĩnh vực ngành nghề thì khoảng 50% thuộc nhóm có giới hạn quy mô (tức là chỉ những dự án thuộc nhóm A, B mới được xem xét cho vay vốn TDĐT). 
(ii) Cần chú trọng khuyến khích các dự án đầu tư mới; đầu tư mở rộng, nâng cấp; mua sắm trang thiết bị đối với lĩnh vực môi trường. Ô nhiễm là “sản phẩm phụ” của tiến trình phát triển, nếu có thêm nhiều giải pháp kiềm chế, giảm thiểu, triệt tiêu nó thì đầu tư phát triển mới thật sự có ý nghĩa. Nếu việc cho vay các dự án đầu tư khắc phục hậu quả (xử lý nước thải, rác thải,...) là cần thiết thì hướng đến nhiều hơn cho giải pháp giảm phát thải, ngăn ngừa, ngăn chặn phát thải sẽ cần thiết hơn, mang lại hiệu quả kinh tế - xã hội cao hơn. 
(iii) Mở rộng diện cho vay các dự án đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nhất là nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Bởi lẽ “trong bất kỳ hoàn cảnh khó khăn nào, ngành nông nghiệp vẫn luôn giành được nhiều thành tựu to lớn, làm tròn vai trò nền tảng, trụ đỡ cho kinh tế nước nhà”; 
(iv) Bổ sung dự án đầu tư thuộc danh mục ưu tiên mời gọi đầu tư của các tỉnh, thành phố mang tính liên kết phát triển Vùng, phù hợp với quy hoạch được Chính phủ phê duyệt.
Ngoài việc xem xét bổ sung danh mục dự án vay vốn TDĐT, cần đảm bảo tính ổn định của danh mục ấy trong một thời gian đủ dài (gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 05 năm, chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm) nhằm tạo niềm tin, định hướng “thu hút nguồn vốn đầu tư toàn xã hội”. Tránh tình trạng xáo trộn dẫn đến “manh mún hóa”, phân tán, lãng phí nguồn lực.
2. Về lãi suất cho vay
Cần nghiên cứu cơ chế để “thật sự ưu đãi” (có thể lấy thước đo so với lãi suất cho vay bình quân của hệ thống NHTM từng thời điểm, thời kỳ). Cơ chế xác định, điều hành lãi suất phải linh hoạt phù hợp với biến động của thị trường, gắn với yêu cầu điều hành chính sách tài chính, tiền tệ của Chính phủ trong từ ngắn hạn đến trung, dài hạn và kể cả tình huống đột xuất. 
Theo Nghị định 32, lãi suất cho vay TDĐT được xác định “bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các mức lãi suất trúng thầu trái phiếu NHPT được Chính phủ bảo lãnh kỳ hạn 05 năm trong thời gian 01 năm trước thời điểm công bố lãi suất theo quy định tại Nghị định này cộng (+) tỷ lệ chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của NHPT. Bộ Tài chính trình Thủ tướng Chính phủ quyết định tỷ lệ chi phí quản lý ổn định trong thời kỳ 03 năm”. Tuy nhiên, đến hiện tại NHPT vẫn chưa có cơ sở xác định và công bố lãi suất cho vay do chưa được giao “tỷ lệ chi phí quản lý” theo quy định.  
Được biết, theo dự thảo đề xuất mới nhất của Bộ Tài chính “Lãi suất cho vay TDĐT bằng mức lãi suất bình quân gia quyền của các trái phiếu NHPT được Chính phủ bảo lãnh còn dư nợ tại thời điểm cuối Quý trước Quý công bố lãi suất cộng (+) biên độ bù đắp chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của NHPT. Biên độ bù đắp chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro của NHPT trong năm 2021 là 3%/năm. Bộ Tài chính quyết định biên độ bù đắp chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro hàng năm kể từ năm 2022 để NHPT xác định lãi suất cho vay TDĐT”. Có ý kiến cho rằng hướng điều chỉnh này tích cực, khả thi, tăng tính chủ động cho NHPT. Song cũng có ý kiến băn khoăn vì “biên độ bù đắp chi phí quản lý hoạt động và dự phòng rủi ro hàng năm” khá trừu tượng; một bài toán không đơn giản, đang chưa đựng khá nhiều “biến phụ thuộc”.
Cần nhấn mạnh rằng “lãi suất cho vay” là một trong những ưu đãi trực tiếp quan trọng, dễ tạo sức hút/sự quan tâm của chủ đầu tư/khách hàng/cộng đồng doanh nghiệp đối với chính sách tín dụng Nhà nước nói chung, TDĐT nói riêng. Thực tế cho thấy khi lãi suất cho vay TDĐT có sự thay đổi/điều chỉnh thì lập tức “cầu TDĐT” biến động. Mức độ nhiều hay ít, phạm vi rộng hay hẹp còn tùy thuộc bởi mức vốn cho vay, thời hạn cho vay, bảo đảm tiền vay… Dẫu biết rằng xuất phát từ nhiều lý do khác nhau, thế mạnh này không còn/không thể duy trì mãi mà phải giảm dần theo hướng “tiệm cận lãi suất thị trường”. Đây được xem là quan điểm tích cực trong hoạch định chính sách kinh tế nói chung, chính sách TDĐT nói riêng, kể từ khi Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) và khi mà nền kinh tế nước ta ngày càng hội nhập sâu rộng với khu vực và thế giới. Song, trong điều kiện cụ thể khi mà nội lực của doanh nghiệp trong nước chưa thực mạnh, đủ sức cạnh tranh ngang bằng, sòng phẳng với bên ngoài; vả lại có những lĩnh vực đầu tư như an sinh xã hội luôn cần/còn cần đến trợ lực trực tiếp từ chính sách TDĐT thì mức lãi suất cho vay “đủ thấp” vẫn còn nguyên ý nghĩa.  
3. Về thời hạn cho vay, 
Các dự án đầu tư vào lĩnh vực kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, đặc biệt là các dự án đầu tư khai thác, xử lý và cung cấp nước sạch phục vụ sản xuất, sinh hoạt, nên áp dụng thời hạn cho vay “đủ dài”. Nhất là dự án đầu tư ở những vùng chịu tác độ bất lợi do biến đổi khí hậu và nước biển dâng, không chỉ 15 năm, 20 năm mà có thể đến 25 năm. Thực tế cho thấy, đặc thù của loại dự án đầu tư vào lĩnh vực này thường có vòng đời dài; thời hạn khai thác, phát huy hiệu quả và có đủ nguồn thu trực tiếp để trả nợ vay cũng phải kéo dài. Hiện nay, trong bối cảnh cả nước tập trung phòng chống đại dịch Covid-19, Thủ tướng Chính phủ đã yêu cầu các cấp, các ngành, các nhà đầu tư nghiên cứu điều chỉnh giảm giá bán nước sạch nhằm hỗ trợ cho cộng đồng. Việc giảm giá bán sẽ giảm nguồn thu, chắc chắn ảnh hưởng đến nguồn trả nợ vốn vay - không phải chủ đầu tư nào cũng có nguồn thu hợp pháp khác để sẵn sàng bổ sung nguồn trả nợ vay theo hợp đồng tín dụng. Do vậy, với thời hạn vay vốn đủ dài, hợp lý là ưu đãi thiết thực dành cho dự án đầu tư vào lĩnh vực này.
4. Về trình tự, thủ tục đầu tư, 
Cần đơn giản hóa, giảm thiểu phù hợp với tinh thần cải cách hành chính, phù hợp với khả năng đáp ứng của khách hàng, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Ưu đãi này rất ý nghĩa không chỉ cho khách hàng mà cho cả tổ chức thực thi chính sách TDĐT; minh bạch hóa và tiết kiệm chi phí tuân thủ.
5. Về mua bảo hiểm tài sản, 
Chỉ áp dụng bắt buộc đối với những loại tài sản hình thành từ vốn vay, thuộc đối tượng bắt buộc phải mua bảo hiểm theo quy định của pháp luật; còn lại nên có khuyến khích khách hàng.
6. Về thanh tra, kiểm tra 
Thanh tra, kiểm tra là cần thiết nhưng nên điều chỉnh theo hướng đảm bảo tuân thủ pháp luật; thiết thực, có trọng tâm, trọng điểm; tránh chồng chéo, không gây phiền hà và tạo tâm lý e ngại cho khách hàng. 
Chính sách pháp luật của Nhà nước nói chung, chính sách TDĐT nói riêng, từ hoạch định đến triển khai áp dụng chắc chắn không thể tránh được những vấn đề bất cập, chưa phù hợp với thực tiễn sinh động không ngửng biến chuyển – đã được minh chứng trong thời qua, tất cả đã được nhận diện. Việc hoàn thiện chính sách TDĐT càng sớm càng có ý nghĩa, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội; giúp NHPT phát huy đầy đủ vai trò ngân hàng chính sách, công cụ điều tiết vĩ mô của Chính phủ trong giai đoạn mới, đang là đòi hỏi cấp thiết./.
 
(1) Thông báo số 97/TB-HĐQT ngày 13/4/2017 của HĐQT NHPT và Thông báo số 14/TB-NHPT ngày 14/4/2017của TGĐ;
(2) Qua công tác rà soát, nắm bắt nhu cầu vay vốn TDĐT trên địa bàn, đối chiếu với quy định hiện hành thì có nhiều dự án phù hợp đối tượng nhưng chủ đầu tư không có/chưa có nhu cầu vay vốn TDĐT do lãi suất không hấp dẫn (trước đây là 8,55%/năm; hiện tại, do chưa đủ cơ sở để thông báo lãi suất cho vay nên NHPT sử dụng lãi suất giả định 9,6% theo Công văn số số 1554/NHPT-TD1 ngày 01/9/2020); mức vốn cho vay, thời hạn cho vay không còn ưu đãi; thủ tục rườm rà với nhiều ràng buộc quá chặt chẽ, nhất là yêu cầu về trình tự, thủ tục theo quy định của Luật Đầu tư công (hiện tại Luật này đã được sửa đổi), trong khi hầu hết doanh nghiệp trên địa bàn thuộc nhóm nhỏ và vừa, chưa/không đủ khả năng để thực hiện;…
(3) Thông báo số 35/TB-HĐQT ngày 08/02/2018, gần nhất là Thông báo số 199/TB-HĐQT ngày 29/10/2020. Trước đó, nội dung văn bản số 1011/NHPT-CSPT ngày 25/5/2018 cho thấy NHPT đã sớm nhận diện những vấn đề bất cập qua thực tiễn triển khai NĐ 32;
(4) Nghị quyết số 151/NQ-CP ngày 13/10/2020 của Chính phủ.
 
Tìm theo ngày :

Khách online:7086
Lượt truy cập: 10686576